Hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) là hình thức đầu tư được ký giữa các nhà đầu tư để cùng kinh doanh, phân chia lợi nhuận hoặc sản phẩm mà không thành lập tổ chức kinh tế mới. Theo Luật Đầu tư, BCC giữa nhà đầu tư trong nước với nhà đầu tư nước ngoài, hoặc giữa các nhà đầu tư nước ngoài, phải làm thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư; BCC chỉ giữa các nhà đầu tư trong nước thì thực hiện theo pháp luật dân sự.
BCC hấp dẫn vì nhìn có vẻ nhẹ hơn lập liên doanh: không vốn điều lệ, không hội đồng thành viên, không con dấu mới. Nhưng chính việc không có pháp nhân chung làm nảy sinh những câu hỏi khó về ai đứng tên tài sản, ai xuất hoá đơn, ai chịu trách nhiệm với bên thứ ba. Bài này giúp bạn biết khi nào BCC hợp lý, thủ tục gồm gì, và những điều khoản không thể thiếu.
BCC khác liên doanh ở chỗ nào
Khi hai bên lập liên doanh, họ cùng góp vốn vào một công ty mới. Công ty đó có tư cách pháp nhân, tự ký hợp đồng, tự đứng tên tài sản, tự chịu trách nhiệm trong phạm vi tài sản của mình. Quan hệ giữa hai bên được quản trị bằng điều lệ và Luật Doanh nghiệp.
Với BCC, không có pháp nhân mới. Mỗi bên vẫn là chính mình; dự án được thực hiện thông qua pháp nhân của một hoặc các bên theo phân công trong hợp đồng. Quan hệ giữa hai bên được quản trị bằng chính hợp đồng BCC, cùng Luật Đầu tư và Bộ luật Dân sự. Trách nhiệm với bên thứ ba thường rơi vào bên đứng ra giao dịch, rồi các bên phân chia với nhau theo hợp đồng.
Vì thế BCC phù hợp với hợp tác có phạm vi rõ, thời hạn xác định, thường gắn với tài sản hoặc giấy phép sẵn có của bên Việt Nam: khai thác một toà nhà, vận hành một dây chuyền, triển khai một dự án có thời hạn. Hợp tác dài hạn, nhiều mảng, cần thương hiệu chung thì liên doanh thường rõ ràng hơn.
BCC và liên doanh: so sánh nhanh
Bảng dưới giúp nhìn nhanh sự khác biệt. Các điểm về thuế chỉ được nêu ở mức nhận diện; cách tính thuế cho từng mô hình là việc của chuyên gia thuế.
| Tiêu chí | Hợp đồng BCC | Liên doanh (công ty mới) |
|---|---|---|
| Pháp nhân mới | Không | Có |
| Văn bản nền | Hợp đồng BCC | Điều lệ công ty, thoả thuận cổ đông |
| Thủ tục khi có bên nước ngoài | Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho dự án BCC | Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và giấy đăng ký doanh nghiệp |
| Tài sản | Đứng tên một bên hoặc các bên theo thoả thuận | Đứng tên công ty |
| Ra khỏi hợp tác | Theo điều khoản chấm dứt hợp đồng | Chuyển nhượng phần vốn, giải thể |
| Hiện diện của bên nước ngoài | Có thể lập văn phòng điều hành | Thông qua công ty |
| Thuế | Cần xác định rõ bên nào kê khai, nộp — hỏi chuyên gia thuế | Công ty kê khai, nộp theo quy định |
Bảng không nói hình thức nào tốt hơn. Nó cho thấy BCC đổi sự gọn nhẹ về tổ chức lấy gánh nặng soạn hợp đồng: mọi thứ liên doanh tự có nhờ luật doanh nghiệp, BCC phải tự viết ra.
Thủ tục đăng ký đầu tư cho BCC có bên nước ngoài
Các bước dưới đây là khung chung cho BCC không thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư. Thời hạn giải quyết và mẫu biểu đối chiếu trên Cổng Dịch vụ công quốc gia.
- Thống nhất nội dung hợp đồng BCC trước khi nộp, vì hợp đồng là thành phần hồ sơ.
- Xác định mục tiêu dự án và điều kiện tiếp cận thị trường áp dụng cho bên nước ngoài, như khi lập công ty.
- Chuẩn bị hồ sơ: văn bản đề nghị thực hiện dự án, giấy tờ pháp lý của các nhà đầu tư, tài liệu chứng minh năng lực tài chính, đề xuất dự án, hợp đồng BCC, tài liệu về địa điểm nếu có.
- Kê khai trên Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư và nộp tại cơ quan đăng ký đầu tư nơi thực hiện dự án.
- Nhận giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ghi tên các nhà đầu tư tham gia BCC.
- Lập văn phòng điều hành nếu bên nước ngoài cần đầu mối tại Việt Nam để thực hiện hợp đồng.
- Thực hiện góp vốn, chi tiêu, chia lợi nhuận qua tài khoản theo quy định ngoại hối áp dụng cho dự án đầu tư trực tiếp.
Nếu BCC được ký giữa một bên Việt Nam với một tổ chức kinh tế có vốn nước ngoài chi phối (trên 50% vốn điều lệ), BCC đó cũng được làm thủ tục như BCC có nhà đầu tư nước ngoài.
Ví dụ giả định: BCC khai thác một khách sạn nhỏ
Công ty A của Việt Nam sở hữu một khách sạn ba tầng ở Lâm Đồng đã có đủ giấy tờ về đất, xây dựng, phòng cháy và đã được ghi nhận là cơ sở lưu trú. Công ty B của Singapore có kinh nghiệm vận hành và kênh khách quốc tế, muốn cùng khai thác trong một thời hạn xác định mà không muốn mua lại khách sạn hay lập công ty mới. Hai bên tính tới BCC.
Trong cấu trúc này, công ty A tiếp tục đứng tên khách sạn, giấy phép và các hợp đồng với khách, nhà cung cấp; công ty B góp tiền cải tạo, góp quy trình vận hành và kênh bán phòng; doanh thu hoặc lợi nhuận chia theo tỷ lệ thoả thuận. Vì công ty B là nhà đầu tư nước ngoài, BCC phải làm thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, và hoạt động lưu trú phải đáp ứng điều kiện tiếp cận thị trường với nhà đầu tư nước ngoài.
Những câu hỏi hai bên phải trả lời trước khi ký: phần cải tạo bằng tiền của B khi kết thúc hợp đồng thuộc về ai; nếu khách sạn bị xử phạt vì vi phạm an ninh trật tự hay phòng cháy trong thời gian B vận hành thì ai chịu; B có được đưa nhân sự nước ngoài sang làm việc không và thủ tục lao động do ai làm; khi A muốn bán khách sạn giữa chừng thì BCC xử lý ra sao. Không trả lời được những câu này bằng chữ trong hợp đồng thì BCC chưa nên ký.
Văn phòng điều hành của bên nước ngoài
Để làm gì. Văn phòng điều hành là nơi bên nước ngoài trong BCC đặt người để quản lý, giám sát việc thực hiện hợp đồng tại Việt Nam. Văn phòng có con dấu, được mở tài khoản, tuyển lao động, ký hợp đồng trong phạm vi quyền và nghĩa vụ của bên nước ngoài theo hợp đồng BCC.
Đăng ký ở đâu. Văn phòng điều hành được đăng ký tại cơ quan đăng ký đầu tư đã cấp giấy chứng nhận cho dự án BCC, theo thủ tục riêng.
Không phải văn phòng đại diện. Văn phòng điều hành gắn với một dự án BCC cụ thể và tồn tại theo hợp đồng đó; văn phòng đại diện gắn với thương nhân nước ngoài nói chung và do ngành công thương cấp phép. Hai loại này không thay thế nhau.
Chấm dứt theo dự án. Khi BCC chấm dứt, văn phòng điều hành phải làm thủ tục chấm dứt; để văn phòng tồn tại sau khi hợp đồng kết thúc là sai.
Điều khoản không thể thiếu trong hợp đồng BCC
Luật Đầu tư liệt kê các nội dung chủ yếu của hợp đồng BCC. Ngoài phần bắt buộc, kinh nghiệm thực tế cho thấy những điều khoản sau quyết định hợp tác có êm hay không.
- Phạm vi, mục tiêu, địa điểm của hoạt động hợp tác, viết đủ cụ thể để phân biệt với hoạt động riêng của từng bên.
- Đóng góp của mỗi bên: tiền, tài sản, quyền sử dụng đất, giấy phép, công nghệ, nhân lực; cách định giá phần đóng góp không bằng tiền.
- Bên nào đứng tên giao dịch với bên thứ ba, ký hợp đồng mua bán, xuất hoá đơn, đứng tên tài sản tạo ra trong quá trình hợp tác.
- Cách phân chia doanh thu, lợi nhuận hay sản phẩm; thời điểm chia; xử lý khi lỗ.
- Cơ chế ra quyết định: ban điều phối, quyền phủ quyết, xử lý bế tắc.
- Chấm dứt và thanh lý: các trường hợp chấm dứt trước hạn, cách chia tài sản chung khi kết thúc, ai giữ giấy phép.
- Giải quyết tranh chấp: toà án hay trọng tài, luật áp dụng, ngôn ngữ hợp đồng có giá trị ưu tiên.
Phần lớn tranh chấp BCC mà người làm nghề gặp xuất phát từ điều khoản thứ ba và thứ sáu: tài sản tạo ra trong quá trình hợp tác đứng tên ai, và khi chia tay thì ai giữ nó.
Rủi ro hay gặp và khi nào cần luật sư
Rủi ro lớn nhất của BCC là dùng nó để che một quan hệ khác. Bên nước ngoài muốn kinh doanh một ngành chưa được mở cho mình, ký BCC với bên Việt Nam có giấy phép, rồi thực chất tự điều hành và hưởng lợi. Cấu trúc này có thể bị coi là hợp đồng giả tạo nhằm né điều kiện tiếp cận thị trường, và Luật Đầu tư cho phép chấm dứt dự án thực hiện trên cơ sở giao dịch giả tạo. Bài này không hướng dẫn cách dựng BCC để né hạn chế, và bạn cũng không nên chấp nhận lời mời như vậy.
Rủi ro thứ hai là bên Việt Nam gánh trách nhiệm một mình: mọi hợp đồng với khách hàng, nhà cung cấp, người lao động đều đứng tên bên Việt Nam, trong khi lợi nhuận chia đều. Khi phát sinh nợ hoặc vi phạm, chủ nợ và cơ quan quản lý tìm tới bên đứng tên. Điều khoản bồi hoàn trong hợp đồng chỉ có giá trị khi bên kia còn tài sản và còn thiện chí.
Với BCC có giá trị lớn, gắn với đất đai hoặc giấy phép chuyên ngành, bạn nên hỏi luật sư trên AI Cố Vấn hoặc công ty luật có kinh nghiệm đầu tư để rà hợp đồng, và hỏi chuyên gia thuế về cách kê khai, nộp thuế giữa các bên trước khi ký.
Câu hỏi thường gặp
Hợp đồng BCC giữa hai công ty Việt Nam có phải xin giấy chứng nhận đăng ký đầu tư không?
Thường không. BCC chỉ giữa các nhà đầu tư trong nước được thực hiện theo pháp luật dân sự. Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư chỉ bắt buộc khi BCC có nhà đầu tư nước ngoài hoặc tổ chức kinh tế có vốn nước ngoài chi phối tham gia.
BCC có được dùng để nhà đầu tư nước ngoài làm ngành chưa được mở không?
Không. Điều kiện tiếp cận thị trường áp dụng cho nhà đầu tư nước ngoài cả khi đầu tư theo BCC. Dùng BCC như một vỏ bọc để né hạn chế có thể bị coi là giao dịch giả tạo, dẫn tới chấm dứt dự án và các hệ quả pháp lý khác.
Tài sản hình thành trong BCC đứng tên ai?
Do các bên thoả thuận trong hợp đồng, thường đứng tên bên trực tiếp mua sắm hoặc bên có tư cách pháp lý phù hợp. Vì không có pháp nhân chung, hợp đồng phải ghi rõ quyền của bên còn lại đối với tài sản đó và cách xử lý khi hợp đồng chấm dứt.
Văn phòng điều hành có được ký hợp đồng với đối tác Việt Nam không?
Văn phòng điều hành được ký hợp đồng trong phạm vi quyền và nghĩa vụ của bên nước ngoài theo hợp đồng BCC. Ký những hợp đồng ngoài phạm vi dự án BCC là vượt thẩm quyền và có thể gây rắc rối cho cả bên nước ngoài lẫn đối tác.
Khi nào nên chuyển từ BCC sang thành lập liên doanh?
Khi hợp tác kéo dài hơn dự tính, mở rộng sang nhiều mảng, cần thương hiệu chung hoặc khi việc đứng tên tài sản, hợp đồng cho một bên đã tạo ra rủi ro lớn. Chuyển đổi cần thủ tục đầu tư mới và thoả thuận thanh lý BCC, nên tính trước trong điều khoản chấm dứt.